Lịch công tác
Liên kết website
THĂM DÒ Ý KIẾN bạn đọc
Dữ liệu đang cập nhật
tạp chí k.t.t.v
Biến đổi khí hậu
Chính sách ứng phó BĐKH: Cần điều chỉnh phù hợp
Ngày đăng: 25/05/2017
(TN&MT) - Quá trình triển khai các công tác ứng phó với biến đổi khí hậu (BĐKH) của các Bộ, ban ngành, địa phương đã cho thấy những hạn chế về xây dựng cơ chế, chính sách huy động nguồn lực liên quan đến ứng phó BĐKH, tuy được quan tâm nhưng chưa đạt kết quả như mong đợi.

Nhiều khó khăn

Theo Báo cáo công tác của Ủy ban Quốc gia về BĐKH trong năm 2016 và những tháng đầu năm 2017, vấn đề phối hợp trong ứng phó với BĐKH giữa các Bộ, ngành, địa phương trong năm qua đã được chú trọng nhưng kết quả còn rất hạn chế. Các vấn đề liên vùng, liên ngành mới bắt đầu thí điểm tại khu vực ĐBSCL nên cần có thời gian tổng kết, rút kinh nghiệm để triển khai rộng rãi ở các khu vực khác.

Do hiện nay chưa có bộ chỉ tiêu về BĐKH cụ thể của từng ngành, lĩnh vực cần lồng ghép trong các Chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển ngành nên việc lồng ghép mới chỉ dừng lại ở việc đưa vào hệ thống quan điểm, định hướng và đề xuất các giải pháp mang tính tổng thể, thực tế triển khai vẫn còn lúng túng, đặc biệt là ở cấp địa phương.

Hạn chế lớn trong quản lý và thực hiện nhiệm vụ BĐKH là thiếu cơ sở dữ liệu quốc gia về BĐKH, thiếu cơ chế quy định về chế độ báo cáo, chia sẻ thông tin thường xuyên của các Bộ, ban, ngành từ Trung ương đến địa phương với các cơ quan liên quan. Điều này khiến công tác ứng phó với những ảnh hưởng của BĐKH thiếu sự liên kết và chủ động, nhất là khi có thiên tai, lũ lụt và những tình huống đột xuất xảy ra.

Cần có chính sách phù hợp để ứng phó BĐKH

Các hoạt động giảm nhẹ phát thải khí nhà kính vẫn chưa tạo được nhiều chuyển biến, việc sử dụng và phát triển năng lượng sạch, năng lượng tái tạo chưa tương xứng với tiềm năng. Tuy một số cơ chế, chính sách khuyến khích đã ban hành, nhưng đến thời điểm hiện tại, tổng sản lượng điện sản xuất từ các nguồn năng lượng tái tạo chỉ chiếm tỷ lệ rất nhỏ trong toàn hệ thống điện quốc gia.

Tại cuộc họp lần thứ 8 của Ủy ban Quốc gia về BĐKH, Bộ trưởng Bộ TN&MT Trần Hồng Hà đã chỉ ra hạn chế trong xây dựng chính sách. Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về ứng phó với BĐKH chưa đáp ứng được yêu cầu của Thỏa thuận Paris. Theo đó, nhiều hoạt động ứng phó theo hình thức tự nguyện trước đây, từ 2021 sẽ chuyển sang hình thức bắt buộc, chịu sự giám sát, kiểm tra của quốc tế. Vì vậy, các Chiến lược Quốc gia về BĐKH, Chiến lược Tăng trưởng xanh được xây dựng trên cơ sở ứng phó tự nguyện trước đây cần thiết phải điểu chỉnh lại cho phù hợp với tình hình mới.

Trong khi đó, tỷ lệ hoàn thành các hành động chính sách của các Bộ, ngành mới chỉ đạt 60% mục tiêu cam kết cho Khung chính sách ứng phó với BĐKH năm 2016. Trong các cuộc họp, các đối tác quốc tế đề nghị phía Việt Nam cần ban hành đúng tiến độ các chính sách theo kế hoạch; đồng thời, cung cấp dẫn chứng, đánh giá về hiệu quả cải cách từ các chính sách đã được ban hành trong các năm 2015, 2016; chú trọng hơn nữa đến các chính sách về năng lượng tái tạo.

Đây cũng là điều kiện để Việt Nam có thể tiếp cận nguồn lực, đáp ứng nhu cầu 30 tỷ USD tài chính thực hiện các Chương trình mục tiêu có liên quan đến ứng phó BĐKH giai đoạn 2016 - 2020. Điều này đòi hỏi phải có cơ chế, chính sách mang tính đột phá tạo điều kiện cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước tham gia.

Diễn biến phức tạp ở ĐBSCL

Những diễn biến về khí tượng, thủy văn tại vùng ĐBSCL diễn ra nhanh hơn, phức tạp hơn và có nhiều bất thường khiến công tác ứng phó gặp khó khăn.

Đặc biệt, tình trạng sụt lún diễn ra nghiêm trọng ở nhiều địa phương, nhưng kịch bản BĐKH hiện hành lại chưa tính đến yếu tố sụt lún (trung bình) của vùng khoảng 3cm/năm, nếu kết hợp thêm yếu tố này và quá trình ngập nước tại ĐBSCL sẽ dẫn đến nguy cơ ngập nhanh hơn những dự báo chính thức và rất đáng lo ngại. Bên cạnh đó, hầu hết các địa phương trong vùng chưa có đánh giá tổng thể để hoàn tất bản đồ khai thác nước ngầm, sơ đồ sụt lún, cảnh báo nguy cơ sụt lún và tiến trình ngập lụt. Sự liên kết, phối hợp trong quy hoạch và xây dựng các công trình thủy lợi, kiểm soát mặn; quy hoạch cấp, thoát nước; công tác điều tra, đánh giá việc khai thác, sử dụng nước dưới đất, tác động đến sụt lún bề mặt đất ĐBSCL chưa được triển khai thực hiện...

Mặt khác, sự phát triển thuỷ điện ở các khu vực thượng nguồn sông Mê Công (kể cả phần của Việt Nam tại Tây Nguyên), đã làm thay đổi dòng chảy, suy giảm lượng phù sa bồi tụ cho vùng; suy kiệt lượng phù du, sinh vật làm giảm đáng kể nguồn lợi thủy sản tự nhiên và không đủ nước ngọt để đẩy lùi nước mặn trở ra biển vào mùa khô hàng năm.

Về chỉ đạo ứng phó, Bộ TN&MT đề xuất Ủy ban Quốc gia về BĐKH giao Bộ căn cứ Luật Tài nguyên nước nghiên cứu, đề xuất tổ chức quản lý tổng hợp tài nguyên nước ở ĐBSCL, lồng ghép với quy chế thí điểm liên kết vùng và phát triển kinh tế vùng; giao Bộ KH&ĐT, Bộ Tài chính phối hợp với các Bộ chuyên ngành rà soát, bố trí, phân bổ các nguồn lực để bố trí cho việc thích ứng với BĐKH tại các địa phương trong vùng. Các tỉnh, thành phố trong khu vực tiếp tục cập nhật các thách thức đối với địa phương mình để đưa vào kế hoạch, chương trình phát triển kinh tế - xã hội cho phù hợp, đặc biệt là khuyến khích chủ động liên kết tiểu vùng, liên kết vùng.

Nguồn: Báo TN&MT

Các tin khác
Kem tri seo