Khu
vực Đồng bằng sông Cửu Long đang trở nên rất dễ bị tác động do những
thay đổi gây ra, trong đó có cả những thay đổi về khí hậu và sự phát
triển kinh tế nhanh.
Xung đột trong quản lý nguồn nước đã phát sinh do những tranh chấp quốc
tế về các dòng môi trường tối thiểu và giới hạn sử dụng nước, xung đột
giữa khu vực năng lượng đang phát triển với những khu vực khác (ngư
nghiệp, nông nghiệp và lâm nghiệp), những vấn đề suy thoái môi trường
và sự giảm sút đa dạng sinh học của lưu vực, xung đột ngay trong khu
vực nông nghiệp (ví dụ giữa gạo với tôm hoặc gạo với ngô). Những xung
đột đó sẽ phổ biến hơn khi nguồn cung cấp nước trở nên thiếu ổn định
trong tương lai do tác động của biến đổi khí hậu.
Biến đổi khí hậu cũng mang lại những cơ hội to lớn bởi vì toàn bộ khu
vực Đồng bằng sông Cửu Long đang ở trong thời kỳ ổn định về chính trị
và phát triển kinh tế tốt nhất trong lịch sử hiện đại. Điều này tạo chỗ
dựa vững chắc cho những thay đổi về mặt tổ chức nhằm cải thiện hiệu quả
và hiệu lực của công tác quản lý tài nguyên nước, nhất là trong giai
đoạn biến đổi khí hậu.
Tuy nhiên, những tổ chức xuyên biên giới như Ủy ban sông Mekong chẳng
hạn, vẫn rất cần thiết nhằm hỗ trợ cho các nỗ lực thích ứng cần thiết
cho Đồng bằng sông Cửu Long. Các quyết định về chính sách được đặt lên
vai của chính phủ các nước dọc theo sông Mekong và có thể thấy, các
quyết định đó không thống nhất với những quốc gia có liên quan khác.
Hợp tác khu vực đóng một vai trò rất quan trọng cho những khu vực như
Đồng bằng sông Cửu Long do sự phụ thuộc của khu vực này vào dòng chảy
từ các nước thượng nguồn sông Mekong cũng như xung đột ngày càng tăng
về tài nguyên nước. Với mong muốn tăng cường hợp tác với các nước tại
tiểu vùng sông Mekong, Việt Nam đã trở thành thành viên của Uỷ ban Sông
Mekong (MRC) từ năm 1995.
Về các nỗ lực thích ứng quốc gia, các bộ có liên quan của Việt Nam đã
học hỏi và cố gắng thực hiện những đổi mới theo các cơ chế quản lý toàn
cầu. Một trong những sáng kiến đáng ghi nhận nhất là thực hiện Chương
trình mục tiêu quốc gia (NTP). Đây thực sự là bước đi đầu tiên hướng
đến việc đánh giá lại một cách hệ thống căn bản về công tác quản lý tài
nguyên nước và mang đến một cái nhìn chi tiết về các ưu tiên và khả
năng của các bộ phận có liên quan.
Cuối cùng, việc thích ứng với biến đổi khí hậu phải gắn với chính các
cộng đồng địa phương ở Đồng bằng sông Cửu Long. Để tăng cường khả năng
thành công của các sáng kiến như trên, cần thúc đẩy sự phối hợp và chia
sẻ thông tin giữa các tổ chức phi chính phủ với các cơ quan chính quyền
trung ương và địa phương.
Hơn nữa, các tổ chức đa phương cũng có vai trò quan trọng trong việc hỗ
trợ kỹ thuật và tài chính cả cho các nỗ lực thích ứng lẫn những nỗ lực
khuyến khích giảm nhẹ rủi ro trong nông nghiệp.
Tương lai của Đồng bằng sông Cửu Long phụ thuộc vào khả năng thích ứng
và phục hồi của các cộng đồng địa phương, khả năng phục hồi của cơ sở
hạ tầng và các quan điểm về quản lý; khả năng thích ứng của các nền
kinh tế khu vực và các nỗ lực quản lý thiên tai.
|
Tiến
sĩ Tô Văn Trường, Ban chủ nhiệm chương trình khoa học công nghệ phục vụ
phòng tránh thiên tai, bảo vệ môi trường và sử dụng hợp lý tài nguyên
thiên nhiên - KC08/06-10 Bộ KHCN:
Ông là
chuyên gia tư vấn cao cấp về nước và môi trường, thành viên Ban chủ
nhiệm chương trình quốc gia khoa học và công nghệ về ngăn chặn thiên
tai, bảo vệ môi trường và sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên thiên
nhiên của Bộ Khoa học và Công nghệ. Bên cạnh đó, ông còn là Giám đốc
công ty Quản lý môi trường quốc tế Việt Nam (IEM).
Tiến sĩ Tô Văn Trường đã có hơn 38 năm kinh nghiệm và từng đảm nhiệm
các chức vụ quan trọng trong lĩnh vực hoạch định, quản lý nước và quản
lý môi trường ở Việt Nam nói chung và ở vùng hạ lưu Đồng bằng sông Cửu
Long nói riêng, bao gồm: Giám đốc Viện quy hoạch thủy lợi miền Nam, Bộ
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và Cán bộ Văn phòng Ủy ban Sông
Mekong tại Bangkok, Thái Lan.
Ông đã công bố nhiều công trình nghiên cứu về chất lượng nước, các vấn
đề về thủy lực và nước ở Đồng bằng Sông Cửu Long và một số công trình
nghiên cứu về khoa học môi trường và khoa học đất.
|
Tiến sĩ Tô Văn Trường