1.
Thu Bồn bắt nguồn từ đỉnh Ngọc Linh mây trắng quanh năm mệnh danh “nóc
nhà miền nam nước Việt”, chảy hơn trăm cây số về Cửa Đại, hoà vào biển
Đông. Trải bao thác bao ghềnh qua núi cao Nam, Bắc Trà My, đến điểm
giáp ranh Nông Sơn - Hiệp Đức, dòng sông cởi lòng thênh thang rộng sau
khi vượt qua đệ nhất hiểm địa đời mình – Hòn Kẽm Đá Dừng.
Chính
ở đây, có thể đem Đường thi Lý Bạch mà cải biên: “Thu Bồn chi thuỷ
thiên thượng lai”. Đó là giang đầu, nơi con nước được gọi đích danh Thu
Bồn. Xuôi dòng không xa, phía hữu ngạn là Cà Tang – Trung Phước, ở giữa
dòng là ngôi làng cổ kính Đại Bường 3 miền đất nước hội tụ bằng cây
trái sum sê và nổi danh chốn gái đẹp xuất thân.
Thu Bồn không chịu hành trình cô đơn suốt đời. Tại
Giao Thuỷ - Đại Lộc, Thu Bồn gặp Vu Gia từ Phước Sơn quyện về, bèn hoà
vào nhau, hình thành hệ sông lớn Vu Gia - Thu Bồn. Từ đây, trên hành
trình về biển, Thu Bồn sông cái rẽ ra muôn ngả. Sông đi qua những đồng
bằng phì nhiêu Đại Lộc, Duy Xuyên, Điện Bàn, Hội An. Sông in bóng 2 di
sản văn hoá thế giới Mỹ Sơn tháp đền huyền bí và Hội An đô thị cổ kính.
Sông lưu dấu những nền văn hoá Chămpa, Sa Huỳnh, Việt và cả dấu chân
những người gươm đàn mở cõi về phương nam (Quảng Nam). Ai đó từng nói,
câu chuyện dòng sông chính là câu chuyện của vùng đất...
Ai từng ngược xuôi đò dọc? Ai từng quá giang đò
ngang? Với Thu Bồn, hàng trăm bến sông như những bến đời không thôi dâu
bể. Đó là câu chuyện riêng tư của mỗi đời người, mỗi số phận ra đi từ
bến từ sông hay đến với bến với sông. Câu chuyện đó, ký ức đó, chỉ
không nên dành cho lũ. Thu Bồn êm đẹp bao nhiêu trong ngày thường của
sông, trong sắc xuân tươi ví dụ, thì lại càng hung hãn bấy nhiêu vào
mùa lũ. Tất cả những gì tươi đẹp vừa kể ra, đều vô nghĩa trước lũ.
Đại Bường chẳng hạn, ký ức năm Thìn 1964, cả làng
trôi đi, thác lũ nhấn chìm cả những tiếng kêu gào bi thương... Đại hồng
thuỷ 2007, rồi 2009, cổng làng mắc đầy rác rều, luỹ tre làng bật gốc
lên trời, vùng tây Nông Sơn đến trực thăng cũng bó cánh. Dọc dòng sông
lũ, những Bàn Thạch, An Phước làng dệt chiếu tả tơi. Những Mã Châu, Duy
Trinh ươm tơ dệt lụa biền dâu xanh ngắt một màu tan nát. Những Giao
Thủy, Gò Nổi, Phú Chiêm, La Qua, Vĩnh Điện, Thanh Hà, Kim Bồng... chìm
trong nước bạo.
Từ thượng nguồn đến hạ lưu của mất người trôi
theo dòng nước bạc. Chiếc nón lá lập lờ cùng con đò rách chỉ đủ để tìm
dấu hai vợ chồng đã bất hạnh, để lại ba đứa con thơ dại. Năm nào cũng
vậy, đến hẹn lại... lũ lên, hàng chục ngàn người cuống cuồng mà chạy,
hàng ngàn tỉ đồng cầm bằng nước chảy. Đó cũng là một câu chuyện của
dòng sông này, một câu chuyện của vùng đất này, dù nhuốm màu bi thương.
 |
| Khu dân cư mới Đồng Hiệp (Hội An) vượt lũ. |
2.
Khoảng mươi năm nay năm nào cũng lũ lớn, đặc biệt 1999, 2007, 2009, lũ
năm sau xóa nhòa mốc “lũ lịch sử” năm trước. Vẫn điệp khúc: Người chạy,
nhà trôi, mạng mất. Một câu hỏi lạnh: Vì sao và vì sao?
Thu Bồn lũ ngày một nhiều, một lớn hơn. Nền nhà được
nâng cao theo “mốc lũ lịch sử” trước, nước vẫn cứ ập vào. Những người
già từng chạy lũ năm 1999 hoặc 2007 vẫn không thể “theo kịp” cảnh chạy
lũ 2009 vì chớp mắt là nước ngoài sông đã ào ào dâng ngập khắp nơi...
Rừng đầu nguồn bị “cạo trọc” cũng đã “mở cửa” cho lũ cuốn về xuôi. Vùng
tây Nông Sơn luôn bị đại hồng thuỷ dập vùi tơi tả, đau đớn thay, cũng
chính là nơi xảy ra vụ phá rừng khe Diên “vô địch thiên hạ”.
Công
trình nhà cửa đường sá thời đại “bùng nổ quy hoạch, xây dựng” trở thành
đê bao lũ. Đường tránh Vĩnh Điện vừa cao, vừa ít cống thoát đủ rộng
khiến thị trấn này ngập lũ chưa từng có. Rồi lũ dâng cao bất thường năm
2009 với nghi án do hệ thống thủy điện dày đặc phía thượng nguồn xả lũ
chồng lên lũ vùng hạ lưu.
Trước mỗi mùa lũ, đơn vị địa phương nào cũng xây
dựng phương án “bốn tại chỗ”, đều họp triển khai, tổng kết rút kinh
nghiệm đầy đủ, người dân được tuyên truyền không được chủ quan, nhưng
rồi lũ đến thì chỉ còn cách... chạy, người dân kêu cứu khắp nơi và
nhiều người chết sau lũ. Năm ngoái, ngay trước lũ diễn ra đợt tổng diễn
tập quy mô nhất trên toàn quốc, có máy bay, tàu thuỷ, có cả “kịch bản”,
nhưng lũ thật ngay sau đó thì lại không có kịch bản nào hết và những gì
đã tập cũng chẳng thể nào diễn được.
Thiên thời – địa lợi – nhân hoà. Thuyết này có lẽ
vẫn còn đúng lắm. Dường như đây là thời của thiên tai thảm hoạ do biến
đổi khí hậu, không chỉ riêng với Thu Bồn. Địa lợi cũng không còn. Đó là
hậu quả việc con người vì lợi ích kinh tế quên ứng xử văn hoá với tự
nhiên. Và, bởi vậy, chính con người lại phải tự mình quay cuồng với
điệp khúc lũ lụt, lại chạy, lại đưa tang, lại cứu trợ...
3. Có thể nào “sống chung với lũ” vẫn cứ là câu hỏi đau đáu.
Ngay trước thềm năm mới này, Quảng Nam có những bước
đi thực chất đánh mốc dấu cho công cuộc phòng tránh lũ theo kiểu hiện
đại. Đó là việc khởi công xây cầu Cửa Đại bắc qua sông Thu Bồn ở hạ lưu
với 2 tuyến đường tránh lũ nối 2 vùng di sản thường xuyên ngập lụt là
Hội An (có di sản đô thị cổ Hội An) và Duy Xuyên (có di sản Mỹ Sơn),
cùng hệ thống hạ tầng và khu dân cư, kinh phí 2.400 tỉ đồng.
Đây
là hợp phần của một dự án tổng thể sắp xếp dân cư phòng tránh và giảm
nhẹ thiệt hại thiên tai vùng ven biển mà Quảng Nam là tỉnh đầu tiên
triển khai, hiện nhiều tỉnh thành miền Trung đang tiếp tục nối bước xây
đựng dự án tương tự. Dự án này thực hiện 12 năm, kinh phí 3.679 tỉ
đồng. Đây được xem là cuộc sắp xếp dân cư vĩ đại nhất trong lịch sử
Quảng Nam dành cho gần 20 ngàn hộ, 100 ngàn người dân ở 15 xã của 4
huyện: Núi Thành, Tam Kỳ, Thăng Bình, Duy Xuyên.
Những người dân “chuyên chạy lũ” ven sông Thu Bồn,
Trường Giang này sẽ di dời đến những khu dân cư mới, đủ sức “sống chung
với lũ”. Dự án cũng xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng thiết yếu và tái
tạo quỹ đất để phát triển du lịch...
Quảng Nam cũng “tiên
phong” cả nước khi thông qua chiến lược thí điểm quốc gia phòng chống
và giảm nhẹ thiên tai đến năm 2020 với kinh phí hơn 10.233 tỉ đồng. Đây
là chiến lược quy mô, triển khai đồng bộ 7 chương trình trọng điểm, tập
trung di dời, sắp xếp dân cư những vùng ngập lụt, ven biển, kiên cố hoá
cơ sở hạ tầng kỹ thuật cho sản xuất, điện, đường, trường, trạm... Nhiều
người kỳ vọng, đó là những chiến lược, dự án “vượt lũ, đổi đời”.
... Thu Bồn vẫn chảy. Vẫn sẽ còn lũ. Quê nhà tôi vẫn
đó, ven dòng sông lũ. Cha tôi nói, đời ông đã trải qua hơn 30 lần dựng
lại nhà sau bão lũ. Còn tôi, lũ tràn ký ức tuổi thơ, ngập con đường
ngập giấc mơ viễn hành. Mùa xuân này, trước Thu Bồn, tôi bắt đầu cho
phép mình mơ về một tương lai bình yên chung sống với Thu Bồn, để những
thế hệ mai sau, trước Thu Bồn, ký ức không bời bời một dòng sông lũ...