I. Tình hình
chung về lĩnh vực Khí tượng Thủy văn và biến đổi khí hậu
1. Một số kết quả nổi
bật của công tác năm 2009
Năm 2009 là năm khởi động Chương trình mục
tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu. Bộ Tài nguyên và Môi trường đã xây
dựng và công bố các kịch bản biến đổi khí hậu, nước biển dâng cho Việt Nam; ban
hành Khung hướng dẫn xây dựng kế hoạch hành động ứng phó với biến đổi khí hậu
của các Bộ, ngành và địa phương. Đặc biệt đã chuẩn bị tốt cho đoàn đại biểu cấp
cao của Chính phủ tham dự Hội nghị lần thứ 15 các bên
tham gia Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu (COP15) diễn ra tại
Copenhagen, Đan Mạch. Kết quả của Đoàn Việt Nam tham dự Hội nghị COP15 được cộng
đồng quốc tế, trong nước đánh giá cao về những nỗ lực và kết quả đạt được của
Việt Nam trong ứng phó với biến đổi khí hậu. Bộ cũng đã trình Thủ tướng
Chính phủ ban hành Quy chế thông tin dự báo thiên tai trên biển; tích cực xây
dựng và hoàn thiện dự thảo Chiến lược phát triển ngành khí tượng thủy văn (KTTV)
đến năm 2020; Đề án Hiện đại hóa công tác dự báo KTTV đến năm 2012; Đề án Hiện
đại hóa ngành KTTV đến năm 2015.
Trong năm 2009, Hệ thống quan trắc – thông
tin, tư liệu, điều tra khảo sát khí tượng thủy văn có nhiều chuyển biến tích
cực, đảm bảo hoạt động thường xuyên phục vụ công tác dự báo và điều tra cơ bản.
Đặc biệt, đã theo dõi chặt chẽ, dự báo, cảnh báo chính xác và kịp thời diễn
biến của 11 cơn bão, 03 áp thấp nhiệt đới (ATNĐ) và mưa, lũ sau bão; cũng như các
hiện tượng KTTV nguy hiểm khác.
2. Những nét lớn trong phương hướng nhiệm vụ công tác năm 2010
Phát huy các thành tích năm 2009, tiếp tục theo dõi diễn biến thời tiết,
thuỷ văn và môi trường, nhất là các hiện tượng KTTV nguy hiểm để cảnh báo và dự
báo kịp thời. Từng bước hiện đại hoá công tác dự báo KTTV; nâng cao chất lượng
dự báo bão, mưa, lũ, hạn hán, xâm nhập mặn và các hiện tượng KTTV nguy hiểm
khác; tiếp tục nghiên cứu, cải tiến bản tin dự báo bão, áp thấp nhiệt đới và
thông báo lũ nhằm đáp ứng yêu cầu công tác chỉ đạo phòng, chống lụt, bão của
Trung ương và địa phương.
Đảm bảo chất lượng điều tra cơ
bản (ĐTCB) và phục vụ tốt công tác dự báo KTTV. Làm tốt công tác duy tu, bảo
dưỡng công trình KTTV trước mùa mưa, bão, lũ năm 2010. Đảm bảo đầy đủ các
phương tiện đo, đạt tiêu chuẩn kỹ thuật. Tiếp nhận và đưa vào hoạt động có hiệu
quả các công trình thiết bị vừa được đầu tư.
Rà soát, bổ sung, sửa đổi các quy
chế, quy định cho phù hợp với thực tiễn, kịp thời xây dựng các quy chế còn
thiếu, nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống.
Đẩy nhanh tiến độ xây dựng dự án Luật Khí tượng thuỷ văn theo hướng xác lập
các cơ chế quản lý hoạt động KTTV đồng bộ với thể chế kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa.
Triển khai thực hiện Chiến lược phát triển ngành KTTV đến năm 2020; Đề án hiện đại hoá ngành KTTV đến năm 2015; đẩy
nhanh tiến độ các dự án thành phần (về tự động hóa mạng lưới quan trắc, truyền
tin, xây dựng cơ sở hạ tầng khu công nghệ cao khí tượng thủy văn) thuộc Đề
án Hiện đại hóa công tác dự báo khí tượng thủy văn đến năm 2012.
Tăng cường công tác hợp tác quốc tế, đặc
biệt chú trọng các hoạt động liên quan tới biến đổi khí hậu, cảnh báo, dự báo
thiên tai; đẩy mạnh triển khai Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến
đổi khí hậu.
Thúc đẩy xã hội hóa hoạt động quan trắc KTTV, khuyến khích tổ chức, cá nhân
tham gia quan trắc, chia sẻ thông tin, số liệu KTTV; rà soát, đổi mới cơ chế dự
báo KTTV phù hợp với cơ chế kinh tế thị trường; tăng cường năng lực dự báo và
phân tích kinh tế về biến đổi khí hậu, các tác động của biến đổi khí hậu đến
phát triển kinh tế - xã hội; nghiên cứu tạo nguồn thu từ quan trắc, phân tích,
dự báo KTTV để tăng đóng góp ngân sách và tái đầu tư tăng cường năng lực ngành KTTV;
đẩy mạnh phát triển các dự án theo cơ chế phát triển sạch (CDM); nghiên cứu áp
dụng các công cụ kinh tế trong việc thúc đẩy phát triển các ngành kinh tế sử
dụng ít các bon; nghiên cứu thử nghiệm cung ứng dịch vụ dự báo thời tiết, khí
hậu, lũ lụt và các thiên tai khác theo cơ chế cung - cầu; xây dựng đề án thương
mại hóa các sản phẩm, thông tin, số liệu khí tượng thủy văn phù hợp với cơ chế
kinh tế thị trường.
II. Về một số vấn đề khác
1. Công tác điều tra cơn bản, thông tin tư liệu và quan
trắc môi trường không khí và nước
Năm 2009,
đánh dấu một bước lớn trong sự phát triển và hội nhập của Ngành KTTV, nổi bật
là công tác dự báo KTTV phòng chống thiên tai, ứng phó với biến đổi khí hậu. Các vấn đề này đã đi vào cuộc
sống và được các cấp các ngành, các địa phương quan tâm sâu sát. Vấn đề cần được
quan tâm hơn nữa, để công tác KTTV phát triển toàn diện hơn đó là các công tác ĐTCB,
thông tin, tư liệu KTTV và quan trắc môi trường không khí và nước.
Kết quả, sản phẩm các hoạt động ĐTCB, thông tin, tư liệu
KTTV và quan trắc môi trường không khí và nước được kết tinh vào các bản tin dự
báo KTTV (vì có làm tốt công tác ĐTCB, thông tin, tư liệu KTTV mới tạo tiền đề
làm tốt công tác dự báo). Tuy nhiên, công tác ĐTCB, thông tin, tư liệu KTTV vẫn
có tính độc lập riêng, ngoài nhiệm vụ phục vụ công tác dự báo, còn có ý nghĩa
cực kỳ quan trọng phục vụ quản lý nhà nước (về Môi trường và Tài nguyên nước
của Bộ Tài nguyên và Môi trường), phục vụ công tác quy hoạch, xây dựng, và các
nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội của Bộ, ngành khác. Trong Ngành KTTV, vất vả
nhất chính là lực lượng làm công tác điều tra cơ bản, lực lượng này chiếm trên
2/3 cán bộ viên chức toàn ngành, đang ngày đêm âm thầm làm việc trong khó khăn
và nguy hiểm.
2. Vấn đề kinh tế hóa
Thực hiện ý kiến chỉ đạo của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và
Môi trường và Nghị quyết 27-NQ/BSDTNMT về đẩy mạnh kinh tế hóa ngành Tài nguyên
và Môi trường, đặc biệt là lĩnh vực KTTV. Lãnh đạo và Đảng ủy Trung tâm Khí
tượng Thủy văn quốc gia đã trăn trở nhiều, làm thế nào để hội nhập, để kinh tế
hóa ngành KTTV, phục vụ mục tiêu quan trọng nhất là tạo được động lực phát
triển nhanh, phát triển bền vững ngành KTTV, với tư duy:
- Thực hiện các nhiệm vụ chính trị bằng đơn đặt hàng
của Nhà nước, của Bộ. Vấn đề này liên quan mật thiết tới sự hoàn thiện hệ thống
định mức kinh tế kỹ thuật, đơn giá và quyết tâm chính trị của các cấp;
- Phục vụ các nhiệm vụ mang tính chuyên ngành, sản
xuất, kinh doanh theo hợp đồng hoặc dịch vụ có thu;
- Phối hợp với các cơ quan truyền thông (Các Đài
truyền hình, Đài phát thanh, báo chí…) làm tốt công tác cung cấp kịp thời,
chính xác các thông tin dự báo KTTV phục vụ cộng đồng, khai thác các nguồn thu
gắn với các bản tin dự báo thời tiết;
- Trong Trung tâm đang hình thành một số đơn vị tư vấn
dịch vụ KTTV hoạt động theo cơ chế tự chủ 100% kinh phí. Đây là những vấn đề
mới, phức tạp, nhậy cảm, Lãnh đạo và Đảng ủy Trung tâm Khí tượng Thủy văn quốc
gia đang tập trung chỉ đạo, sẽ đánh giá, rút kinh nghiệm,
điều chỉnh, nhân rộng mô hình.
III. Một số nhiệm vụ giải pháp thực hiện ý kiến chỉ đạo của
Bộ trưởng tại Hội nghị tổng kết công tác năm 2009 của Trung tâm KTTV quốc gia
Tiếp
thu ý kiến chỉ đạo của Bộ trưởng tại Hội nghị tổng kết công tác năm 2009, Trung tâm Khí tượng Thủy
văn quốc gia đặt tiêu chí của năm 2010 là “Năm của hành động và
tăng tốc đổi mới công nghệ” và thực hiện Tiêu chí này bằng 04 giải pháp:
1.
Tiếp tục đổi mới và hoàn thiện hệ thống tổ chức và cán bộ trong toàn Trung tâm,
tạo cơ sở tiếp thu, ứng dụng nhanh công nghệ mới, cơ chế hoạt động mới.
2.
Tăng cường kiểm tra công tác kế hoạch ngay từ tháng đầu, quý đầu, đặc biệt là
công tác triển khai thực hiện các dự án đầu tư phát triển cũng như các dự án
chuyên môn. Quản lý chặt chẽ chất lượng các dự án, đảm bảo kết quả thực hiện
các dự án có tác động tức thời tới việc đổi mới công nghệ.
3.
Đổi mới tư duy trong chỉ đạo điều hành: giao việc hợp lý, đúng chức năng, tạo
môi trường phối hợp công tác tốt giữa các đơn vị, tập trung chỉ đạo thực hiện
hoàn thành dứt điểm từng nhiệm vụ trọng tâm trong từng thời kỳ, đẩy mạnh ứng
dụng công nghệ thông tin trong chỉ đạo điều hành.
4.
Rà soát, bổ sung, sửa đổi các quy chế, quy định cho phù hợp với thực tiễn, phát
huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống; đưa nhanh những tiến bộ kỹ thuật, những
công nghệ mới được đầu tư vào hoạt động nghiệp vụ; tiếp tục nghiên cứu, cải
tiến bản tin dự báo bão, áp thấp nhiệt đới và thông báo lũ nhằm đáp ứng yêu cầu
công tác chỉ đạo phòng, chống lụt, bão của Trung ương và địa phương.
IV. Một số kiến nghị
1. Về đào tạo nguồn nhân lực
Thực
tế, do tác động của kinh tế thị trường, trong nhiều năm qua, các khoa KTTV của
các trường đại học trong nước gần như không tuyển được học sinh khá, giỏi, do
đó ngành gặp rất nhiều khó khăn trong đào tạo chuyên gia giỏi, chuyên gia đầu
ngành. Vì vậy, ngành KTTV xin có cơ chế riêng, được dành một số học bổng nhà
nước để tuyển và cử người đi đào tạo Đại học ngành KTTV ở nước ngoài, giống như một số ngành đặc thù,
tạo tiền đề đào tạo đội ngũ chuyên gia giỏi cho Ngành.
2. Về những khó khăn, hạn chế của khoa học, công nghệ
dự báo
Bản chất tự nhiên của các quá trình KTTV trong hình
thành và phát triển của nó vốn đã phức tạp, nay lại càng trở nên phức tạp hơn
nữa trong điều kiện bị ảnh hưởng của biến đổi khí hậu toàn cầu, làm cho những
quy luật KTTV mà con người đã biết nay không còn phù hợp với thực tiễn nữa. Vì
thế công tác dự báo KTTV không thể tránh những lúc, những lần dự báo chưa đạt
độ chính xác mong muốn. Những sai số trong dự báo KTTV do giới hạn của khoa
học, công nghệ hiện nay chắc chắn sẽ không tránh khỏi.
Về công tác dự báo mưa, lũ, mặc dù hiện nay Trung tâm
đã thực hiện các giải pháp phối hợp tốt hơn giữa các đơn vị làm dự báo từ trung
ương tới địa phương và đổi mới phương thức thảo luận dự báo, nhưng việc dự báo
định lượng mưa rất khó khăn nhất là lượng mưa do một cơn bão gây ra. Công nghệ
dự báo hiện nay chỉ cho phép dự báo mưa trên diện rộng, chưa thể chỉ ra được
điểm nào hoặc khu vực nào có mưa lớn, tổng lượng mưa bao nhiêu và kéo dài bao
lâu. Mặt khác số trạm quan trắc KTTV ở nước ta còn quá thưa, truyền số liệu
chậm, trong khi các sông nhỏ ở vùng núi và các sông ở các tỉnh miền Trung đều
ngắn và dốc, lũ dồn về vùng đồng bằng rất nhanh, rất khó khăn trong việc dự báo
lũ một cách chính xác. Mặt khác thực trạng che phủ của rừng thế nào, các hồ
chứa xả lũ bao nhiêu, hiện nay ngành KTTV không nắm được vì không được biết quy
trình vận hành của các hồ và chưa có đủ các trạm quan trắc thủy văn ở hạ lưu
công trình, do đó càng thêm khó khăn trong dự báo lũ ở vùng hạ du các sông.
* Để khắc
phục tình trạng nêu trên cần:
- Thường xuyên theo dõi, cập nhật các bản tin dự báo
KTTV. Trong dự báo báo, lũ tần suất phát các bản tin phụ thuộc vào tính cấp
bách, nguy hiểm (Quy chế báo ATNĐ, bão lũ ban hành kèm theo Quyết định số
245/QĐ-TTg ngày 27 tháng 10 năm 2006 của Thủ tướng Chính phủ). Thí dụ Bão xa
phát ngày 2 lần, bão trên biển Đông phát ngày 4 lần và bão... bão khẩn cấp thì
mội giờ phát một lần và có những bản tin đột xuất. Bản tin có giá trị nhất là
bản tin gần nhất, vì thế đề nghị các cấp, ngành trong công tác chỉ đạo phòng
chống lũ bão cần khai thác, sử dụng triệt để các bản tin này.
- Làm tốt công tác báo chí và tuyên truyền phổ biến
kiến thức KTTV, để nâng cao năng lực khai thác các bản tin thời tiết thủy văn
nguy hiểm cho cộng đồng để giảm thiểu mức thấp nhất các thiệt hại do thiên tai
gây ra.
- Tăng cường hơn nữa vai trò điều phối đối với các Bộ,
ngành, địa phương trong nước và các tổ chức quốc tế trong việc vận động nguồn
kinh phí và tổ chức triển khai nhanh, có hiệu quả các giải pháp của Việt Nam
thích ứng với biến đổi khí hậu và nước biển dâng ./.
TRUNG
TÂM KHÍ TƯỢNG THỦY VĂN QUỐC GIA